Dinh dưỡng và Thường thức gia đình

Stent trong điều trị nghẽn động mạch vành

Thứ tư, 06/04/2011, 14:50 GMT+7

Động mạch vành là động mạch mang máu đến nuôi cơ tim. Khi lòng động mạch bị hẹp, cơ tim thiếu máu nuôi sẽ bị tổn thương, hoại tử; nếu nhẹ sẽ gây cơn đau thắt ngực, nặng sẽ gây nhồi máu cơ tim. Nhồi máu cơ tim cấp xảy ra khi động mạch vành bị tắc nghẽn hoàn toàn, vùng cơ tim tương ứng không được tưới máu sẽ bị hoại tử.

Nguyên nhân

Nguyên nhân của bệnh mạch vành là do xơ mỡ động mạch: thường xuất hiện ở lứa tuổi trung niên và tiến triển dần theo thời gian, gây tổn thương và làm hẹp các động mạch trong cơ thể. Tổn thương xơ mỡ động mạch ban đầu là những dải mỡ (cholesterol) đọng lại trong lòng mạch, dần dần sẽ tạo thành những mảng xơ vữa lớn gây hẹp lòng động mạch, cản trở việc lưu thông máu đến cơ tim.

Điều trị

Hiện có nhiều phương pháp: thuốc, mổ bắc cầu và đặt stent.

- Nếu bệnh nhẹ, lòng mạch hẹp ít, bệnh nhân sẽ được điều trị nội khoa bằng thuốc giãn mạch vành.

- Phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành: áp dụng cho những trường hợp nghẽn nhiều có nguy cơ hoại tử cơ tim, nhồi máu cơ tim và tử vong. Đây là thủ thuật lấy một đoạn tĩnh mạch ở chân thay thế đoạn động mạch bị hẹp làm cầu nối để máu lưu thông nuôi cơ tim. Phương pháp này gây nhiều tai biến và thương tổn trên cơ thể bệnh nhân.

Điều trị bệnh mạch vành bằng stent (giá đỡ)

Việc sử dụng stent trong điều trị bệnh hẹp hoặc nghẽn động mạch vành đang là phương pháp tối ưu hiện nay mà không phải mổ xẻ trên quả tim. Stent là một khung lưới bằng kim loại, dài từ 8 - 33 mm, đường kính từ 2,25 - 5 mm, được đưa vào cơ thể qua động mạch đùi hay động mạch quay thông qua một ống thông, kèm theo một bong bóng nhỏ, đến lòng động mạch vành nơi bị hẹp, sau khi bơm bóng lên để phá vỡ mảng xơ vữa thì stent được cố định tại chỗ để ngăn chặn tai biến cấp thời là thiếu máu cơ tim cấp và lâu dài là ngăn ngừa tái hẹp. Tuy nhiên, sử dụng loại stent thông thường có tỷ lệ tái hẹp khá cao với 30 - 40% người bệnh chỉ sau 3 - 6 tháng.

- Stent tẩm thuốc

Đây là bước đột phá trong ngành thông tim can thiệp. Ưu điểm của stent tẩm thuốc là giúp giảm tỷ lệ tái hẹp xuống chỉ còn khoảng 5 - 10%, đồng thời giảm tái tưới máu đối với bệnh nhân có nguy cơ cao bị tái hẹp trong stent như bệnh nhân có tổn thương đoạn gần động mạch xuống trước trái, bệnh nhân bị tổn thương động mạch nhỏ, bệnh nhân đã từng bị tái hẹp trong stent, nhồi máu cơ tim cấp với ST chênh lên, tắc động mạch vành hoàn toàn mãn tính và đái tháo đường.

Theo GS.BS. Lau Kean Wah, chuyên gia về tim mạch thuộc Trung tâm y khoa Gleneagles (Singapore), sử dụng stent tẩm thuốc có lợi về mặt chi phí và hiệu quả so với stent không tẩm thuốc, đồng thời cho kết quả trung hạn tương đương với phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành. Trong số các dụng cụ dùng để điều trị bệnh động mạch vành thì stent tẩm thuốc cho kết quả chụp mạch vành và lâm sàng tốt nhất. Tuy nhiên, không phải tất cả các kiểu stent tẩm thuốc đều có hiệu quả như nhau.

Đặt stent: tay nghề bác sĩ đặt lên hàng đầu

Điều trị bằng can thiệp mạch vành tùy thuộc vào tổn thương gây hẹp lòng mạch. Nếu hẹp dưới 50 - 70% thì điều trị nội khoa; hẹp trên 70% ở một hoặc hai nơi khác nhau có chỉ định nên đặt stent hoặc nong lòng mạch. Trong trường hợp bệnh nhân bị tổn thương quá nhiều nhánh thì không nên đặt stent vì vừa lãng phí tiền mà không hiệu quả nếu so sánh với mổ bắc cầu, nhất là những người trên 65 tuổi. Có người sau đặt sức khỏe trở lại bình thường, cũng có người do cơ địa bị hẹp lại hoặc do tiền sử có thêm bệnh khác có thể có những tai biến: nhồi máu cơ tim, đông máu... Chụp động mạch vành hoặc can thiệp động mạch vành phải hết sức thận trọng, nhất là những người trên 65 tuổi. Theo Y văn thế giới, tỷ lệ tử vong nhất định sau khi đặt stent là 0,3%.

Đặt stent chỉ là một thủ thuật song nó được xếp vào kỹ thuật cao bởi phải kèm theo các tiêu chuẩn kỹ thuật và thiết bị tương xứng, trong đó, tay nghề của bác sĩ được đặt lên hàng đầu.


ThS.BS. ĐẶNG ĐÌNH HÙNG

Viết phản hồi



 Ẩn email của tôi

Giới hạn tin theo ngày :   từ   đến