Dinh dưỡng và Thường thức gia đình

Men gan: Những điều cần biết

Thứ tư, 09/03/2011, 10:25 GMT+7

Tăng hay giảm men gan đều là những báo hiệu bất thường sinh hóa trong cơ thể, liên quan với mức độ tổn thương tế bào gan.

Men gan là các protein do gan tiết ra, có tác dụng xúc tác các phản ứng hóa học trong cơ thể. Bình thường các men này nằm trong tế bào gan và một số cơ quan khác. Khi có tổn thương gan các men này tràn vào máu, làm tăng nồng độ trong máu, báo hiệu có nguy cơ bệnh gan. Có nhiều loại men gan, trong đó các men gan thường được khảo sát nhất là:

• Aspartate aminotransferase (AST hoặc SGOT).

• Alanine aminotransferase (ALT hay SGPT).

Ngoài AST và ALT, có những enzym khác:

• Phosphatase kiềm.

• Lactate dehydrogenase (LDH).

• Gamma-glutamyl transpeptidase (GGT).

Men gan từ đâu có?

- AST (SGOT) là một enzym ở bào tương và ty thể, thường được tìm thấy trong các mô gan, tim, cơ, thận và não, AST sẽ tăng cao khi có tổn thương một trong những mô này.

- ALT (SGPT) là men trong bào tương, hiện diện chủ yếu ở tế bào gan, vì vậy sự tăng ALT đặc hiệu cho tổn thương tế bào gan hơn.

- Phosphatase kiềm là một enzym gan trong tiểu quản màng tế bào gan, thường tăng khi tổn thương tế bào mật (tắc nghẽn đường mật). Ngoài ra một số các nguyên nhân khác cũng có thể tăng phosphatase kiềm: bệnh xương, do đó có thể tăng trong các bệnh xương.

- GGT men trong tế bào thành của ống mật, tăng trong viêm gan mạn, trong bệnh đường mật cùng với tăng phosphatase kiềm.

Thế nào là trị số men gan bình thường?

Khi các chỉ số xét nghiệm đạt:

• AST: 20 - 40 UI/L

• ALT: 20 - 40 UI/L

• GGT: 20 - 40UI/L

• Phosphatase kiềm: 30 - 110 UI/L.

Men gan tăng

Tăng men gan thường là biểu hiện bất thường sinh hóa đầu tiên ở bệnh nhân viêm gan virus, viêm gan tự miễn hay viêm gan do thuốc. Mức độ tăng men gan có thể liên quan với mức độ lan rộng tổn thương tế bào gan nhưng thường không có ý nghĩa tiên lượng.

Tăng men gan có nguy hiểm?

Nghiên cứu cho thấy, tăng AST và ALT dự báo sẽ giảm dần tuổi thọ, tăng tỷ lệ tử vong từ 21 đến 78%. Với AST trị số tăng gấp đôi sẽ tăng 32% nguy cơ tử vong, và nếu tăng hơn gấp đôi, nguy cơ tử vong sẽ lên đến 78%. Với ALT gấp 2 lần sẽ tăng 21% nguy cơ tử vong và khi tăng hơn gấp đôi, nguy cơ sẽ là 59%.

Ngược lại AST, ALT bình thường thì tỷ lệ tử vong thấp hơn dự kiến (0,95 cho AST và 0,61 cho ALT).

Mức độ tăng men gan không hoàn toàn tương quan với mức độ tổn thương gan hoặc tiên lượng. Viêm gan siêu vi A cấp tính có thể tăng rất cao AST và ALT, nhưng hầu hết những người bị viêm gan siêu vi A cấp tính sẽ khỏi bệnh hoàn toàn. Trong khi đó, viêm gan C mạn tính thường chỉ tăng ít AST và ALT, nhưng dần dần sẽ đưa đến xơ gan, ung thư gan.

Nguyên nhân gây tăng men gan?

• Nồng độ AST, ALT tăng rất cao thường thấy trong những bệnh gây hoại tử gan lan tỏa như viêm gan siêu vi cấp, quá liều acetaminophen, ngưng tuần hoàn kéo dài...

• Men gan tăng lên đến 3.000 U/L trong viêm gan virus cấp hoặc viêm gan do thuốc. Khi bị suy gan cấp hay sốc gan men gan có thể tăng đến 5.000 U/L.

• Tăng men gan từ nhẹ đến trung bình thường gặp trong gan nhiễm mỡ do rượu, đái tháo đường, béo phì; viêm gan siêu vi mạn hoạt động, viêm gan tự miễn, ứ sắt, bệnh lý tự miễn ở ruột non.

• Trong vàng da tắc mật, men gan thường dưới 500 U/L.

• Ở bệnh nhân viêm gan do rượu AST thường tăng 2 - 10 lần, ALT chỉ ở mức bình thường, tăng nhẹ, thấp có thể do ở người nghiện rượu thiếu pyrydoxal 5-phosphate là yếu tố cần cho sự tổng hợp ALT.

• Ở bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu ALT thường cao hơn AST.

Nguyên nhân ít gặp: hemachromatosis (quá tải sắt), bệnh Wilson, thiếu alpha-1-antitrypsin, Celiac sprue, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng, viêm gan tự miễn...

Hemachromatosis là một bệnh di truyền rối loạn hấp thu sắt, tích tụ sắt trong gan dẫn đến xơ gan. 

- Wilson là một rối loạn di truyền với sự tích tụ quá mức của đồng trong các mô thường là gan và não dẫn đến viêm gan mạn, xơ gan, rối loạn tâm thần, động kinh.

- Alpha-1-antitrypsin là một rối loạn di truyền, trong đó thiếu alpha-1-antitrypsin dẫn đến khí phế thủng, viêm gan.

- Viêm gan tự miễn là tổn thương gan do rối loạn miễn dịch tạo ra kháng thể gây tổn thương gan. 

- Celiac sprue là một bệnh của ruột non, do dị ứng với gluten biểu hiện đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy, suy dinh dưỡng, bất thường ALT và AST.

Những loại thuốc nào gây bất thường men gan?

- Thuốc giảm đau: aspirin, acetaminophen (Tylenol), ibuprofen (Advil, Motrin),  naproxen (Naprosyn, Naprelan, Anaprox, Aleve),  diclofenac (Voltaren, Cataflam...), phenylbutazone (Butazolidine).

- Thuốc điều trị động kinh: phenytoin (Dilantin), valproic acid (Depakote, Deparkin,...), carbamazepine (Tegretol), phenobarbital.

- Kháng sinh: tetracyclin, sulfonamid, isoniazid (INH) (Nydrazid, Laniazid), sulfamethoxazole (Gantanol), Trimethoprim (Trimpex; Proloprim, Primsol), Nitrofurantoin (Macrodantin; Furadantin; Macrobid), fluconazole (Diflucan).

- Thuốc tim mạch: amiodarone (Cordarone), hydralazine, quinidine (Quinaglute, Quinidex)...

- Thuốc chống trầm cảm.

- Thuốc giảm mỡ máu:

Statins: lovastatin (Mevacor, Altocor), pravastatin (Pravachol),  atorvastatin (Lipitor), fluvastatin (Lescol), rosuvastatin (Crestor), simvastatin (Zocor), Niacin.

Men gan thấp

Đó là những người bị xơ gan; suy gan nặng; u mạch máu gan; bệnh thận, hội chứng urê huyết cao, lọc thận định kỳ (VGSV mạn trên những bệnh nhân này có thể men gan không tăng); suy giáp; suy tuyến thượng thận; hội chứng kém hấp thu, suy dinh dưỡng, chế độ ăn ít đạm; sốt; tiêu chảy nặng; ăn quá nhiều chất béo; nhiễm trùng; thiếu sắt; phỏng nặng; hạ calci máu; thiếu đạm và các vitamin; phụ nữ mang thai; ít hoạt động thể chất.

Làm gì khi có men gan bất thường?

Khi phát hiện có men gan bất thường cần khảo sát tiền căn, các xét nghiệm trước đó. Làm lại xét nghiệm sau vài tuần đến vài tháng để xem bất thường có kéo dài không.

Cần tìm nguyên nhân, yếu tố nguy cơ như: viêm gan siêu vi B và C, truyền máu, ma túy, yếu tố nghề nghiệp, gia đình có người bệnh gan, dùng thuốc, nghiện rượu, rối loạn chuyển hóa lipid... Sau đó loại bỏ yếu tố nguy cơ nếu có như bỏ rượu, giảm cân, ngưng thuốc... Nếu không tìm được nguyên nhân nên xem xét chỉ định sinh thiết gan. Các dữ liệu từ sinh thiết gan sẽ giúp đánh giá chẩn đoán bệnh, mức độ nghiêm trọng của tổn thương gan, lập kế hoạch điều trị, đánh giá hiệu quả của điều trị, tiên lượng bệnh...

Chế độ ăn tốt cho gan

Ăn đều đặn và không bỏ bất kỳ bữa ăn nào. Giảm tiêu thụ các loại thực phẩm tinh chế. Tăng lượng rau quả tươi. Tránh thực phẩm chế biến và đóng hộp, thức ăn nhanh như bánh pizza, bánh mì kẹp thịt, khoai tây chiên và bánh kem xốp. Tránh thức ăn chiên, chất béo bão hòa, nước uống có gas.


ThS.BS. LÊ THỊ TUYẾT PHƯỢNG (Khoa nội tiêu hóa - BV Nhân dân 115)

Viết phản hồi



 Ẩn email của tôi

Giới hạn tin theo ngày :   từ   đến