Mãng cầu xiêm: giúp phòng và chữa ung thư?

Thứ hai, 28/02/2011, 09:42 GMT+7

Theo TS.BS. Nguyễn Hùng Vĩ, một nghiên cứu gần đây về nước ép từ trái mãng cầu xiêm (soursop) cho thấy: loại nước ép này là một liệu pháp chữa ung thư an toàn và hiệu quả, hoàn toàn từ thiên nhiên nên không gây nôn ói, sụt cân và rụng tóc; bảo vệ hệ thống miễn dịch của cơ thể, tránh được một số bệnh truyền nhiễm...

Nước ép này có thể tiêu diệt các tế bào của 12 loại ung thư như ung thư ruột, ung thư vú, tuyến tiền liệt, phổi và ung thư tuyến tụy... Làm chậm sự phát triển của các tế bào ung thư nhanh gấp 10.000 lần so với adriamycin (một loại thuốc dùng trong liệu pháp hóa trị chữa ung thư). Nước ép này không làm tổn hại đến các tế bào khỏe mạnh.

Đầu năm 2011, vào mạng tìm “trái cây phòng và chữa ung thư”, “Graviola anticancer” và “Guava anticancer”. Sẽ có ngay hơn 647.600 thông tin trên mạng Google (151.000 bản tiếng Việt, 496.600 bản tiếng Anh, Pháp...) nói về mãng cầu xiêm (một loại trái cây nhiệt đới quen thuộc).

Vài phương thức sử dụng:

Mãng cầu xiêm được dùng làm thực phẩm tại nhiều nơi trên thế giới. Trái chứa nhiều nước, nên thường dùng để uống hơn là ăn. Tại Peru, trong vùng núi Andes, lá mãng cầu được dùng làm thuốc trị cảm, sổ mũi; hạt nghiền nát làm thuốc trừ sâu bọ; trong vùng Amazon, vỏ cây và lá dùng trị tiểu đường, làm dịu đau, chống co giật. Tại Guyana: lá và vỏ cây, nấu thành trà dược giúp trị đau và bổ tim. Tại Brasil, trong vùng Amazon: lá nấu thành trà trị bệnh gan; dầu ép từ lá và trái còn non, trộn với dầu olive làm thuốc thoa bên ngoài trị thấp khớp, đau sưng gân cốt. Tại Jamaica, Haiti và West Indies: trái hay nước ép từ trái dùng trị nóng sốt, giúp sinh sữa và trị tiêu chảy; vỏ thân cây và lá dùng trị đau nhức, chống co - giật, ho, suyễn.

Tại Ấn Độ, cây được gọi theo tiếng Tamilnadu là mullu-chitta: trái dùng chống thiếu vitamin C (scorbut); hạt gây nôn mửa và làm se da. Tại Việt Nam, hạt được dùng như hạt na, nghiền nát trong nước, lấy nước gội đầu để trị chí rận. Một phương thuốc nam khá phổ biến để trị huyết áp cao là dùng vỏ trái hay lá mãng cầu xiêm, sắc chung với rễ nhàu và rau cần thành nước uống (bỏ bã) mỗi ngày.

Dược tính của mãng cầu xiêm:

Các nhà khoa học đã nghiên cứu về dược tính của mãng cầu xiêm từ 1940 và ly trích được nhiều hoạt chất. Một số các nghiên cứu sơ khởi được công bố trong khoảng thời gian 1940 đến 1962 ghi nhận vỏ thân và lá mãng cầu xiêm có những tác dụng làm hạ huyết áp, chống co giật, làm giãn nở mạch máu, thư giãn cơ trơn khi thử trên thú vật. Đến 1991, tác dụng hạ huyết áp của lá mãng cầu xiêm đã được tái xác nhận. Các nghiên cứu sau đó đã chứng minh được là dịch chiết từ lá, vỏ thân, rễ, chồi và hạt mãng cầu xiêm có những tác dụng kháng sinh chống lại một số vi khuẩn gây bệnh, và vỏ cây có khả năng chống nấm. Mãng cầu xiêm có tên khoa học là Annona muricata thuộc họ thực vật Annonaceae (Annona, phát xuất từ tên tại Haiti; “anon”, nghĩa là thu hoạch của năm, “muricata” có nghĩa là mặt bên ngoài sần lên, có những mũi nhọn).

Thành phần dinh dưỡng và hóa học:

100 gram phần thịt của trái mãng cầu xiêm, bỏ hạt, chứa: calori 53,1 -  61,3; chất đạm 1 g; chất béo 0,97 g; chất xơ 0,79 g; calcium 10,3 mg; sắt 0,64 mg; magnesium 21 mg; phosphor 27,7 mg; potassium 287 mg; sodium 14 mg; beta-caroten (a) 2 iu; thiamin 0,110 mg; riboflavin 0,050 mg; niacin 1.280 mg; pantothenic acid 0,253 mg; pyridoxin 0,059 mg; vitamin C 29,6 mg. Hàm lượng chất dinh dưỡng chứa trong 100 g phần ăn được của mãng cầu so với chuối sứ và xoài (không tính vỏ, hạt, lõi...).

Lá mãng cầu xiêm chứa các acetogenin loại monotetrahydrofurane như annopentocin A, B và C; cis và trans-annomuricin-D-ones (4, 5), muricoreacin, muricohexocin... Ngoài ra còn có tanin, chất nhựa resin. Trái mãng cầu xiêm chứa các alkaloid loại isoquinolein như: annonain, nornuciferin và asimilobin.

Hạt chứa khoảng 0,05% alcaloid, trong đó 2 chất chính là muricin và muricinin. Nghiên cứu tại ĐH Bắc Kinh (2001) ghi nhận hạt có chứa các acetogenin: muricatenol, gigantetrocin-A, -B, annomontacin, gigante tronenin. Trong hạt còn có các hỗn hợp N-fatty acyl tryptamin, một lectin có ái lực mạnh với glucose/mannose; các galactomannans...

(Kỳ tới: Khả năng chữa ung thư của mãng cầu xiêm)


TS.BS. NGUYỄN HÙNG VĨ (PGĐ Sở y tế Tiền Giang)

Viết phản hồi



 Ẩn email của tôi
 

Giới hạn tin theo ngày :   từ   đến