Nhiễm CMV

Thứ sáu, 17/04/2009, 14:29 GMT+7

Cytomegalovirus (CMV) gồm nhiều loại siêu vi, thuộc nhóm ? herpes virus, thường ẩn trong nguyên bào sợi để phân chia và tăng trưởng. Nhiễm CMV hiện được xem là một tác nhân quan trọng gây nhiều bệnh cho mọi nhóm tuổi, từ các khuyết tật bẩm sinh nặng nề cho đến các rối loạn bệnh lý đi từ bệnh cảnh không triệu chứng, nhiễm âm thầm, đến hội chứng “tế bào to đơn nhân” rồi nhiễm toàn thân ở người suy giảm miễn dịch.

CMV có mặt trên toàn cầu, khoảng 1% sơ sinh bị nhiễm CMV; ở các nước đang phát triển, tỷ lệ này còn cao hơn. Cuộc sống cộng đồng và vệ sinh cá nhân kém là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển. Nhiễm ở tuổi chu sinh và trẻ em nhỏ xảy ra rất thường xuyên. CMV có thể hiện diện trong sữa mẹ, nước miếng, phân người và nước tiểu. Sự lây truyền có thể bắt đầu từ các nhà trẻ, các bé đem virus về nhà lây cho mẹ rồi từ mẹ lại lây truyền tiếp cho thai nhi và sơ sinh. Khi trong nhà có một bé bị lây nhiễm thì trong vòng 6 tháng sau, 50% thành viên gia đình sẽ có CMV (+). CMV không lây truyền qua một vài tiếp xúc mà cần có thời gian tiếp cận khá lâu dài. CMV còn có thể lây truyền qua đường tình dục, hiện diện âm thầm trong tinh dịch và dịch tiết cổ tử cung. Truyền máu cũng là một cách lây truyền CMV.

Một khi đã bị nhiễm thì người bệnh sẽ mang CMV đến trọn đời, mặc dù không triệu chứng. Các đợt tái phát sẽ xảy ra khi các tế bào miễn dịch T bị suy yếu, có thể do bệnh như nhiễm HIV hoặc do sử dụng thuốc ức chế miễn dịch trong ghép tủy, ghép nội tạng.

Nhiễm CMV bẩm sinh

Thai nhi nhiễm CMV có thể có nhiều dạng biểu hiện lâm sàng: từ không có triệu chứng đến những thể nặng và lan rộng toàn thân. Gần như chỉ những thai nhi có mẹ bị nhiễm CMV lần đầu trong khi mang thai mới có triệu chứng lâm sàng: đốm xuất huyết, gan lách to, vàng da (60 - 80%); sọ nhỏ và não teo, vôi hóa nhu mô não, chậm phát triển trong tử cung (30 - 50%); thoát vị bẹn và viêm võng mạc ít thấy hơn.

Xét nghiệm cận lâm sàng: men gan tăng, giảm tiểu cầu, bilirubin cao, tán huyết, protein trong dịch não tủy cao.

Các em bé nhiễm CMV bẩm sinh thể nặng có tiên lượng rất xấu: tử vong khoảng 20 - 30%; nếu có sống sót thì cũng hiếm khi không bị chậm phát triển trí tuệ hoặc bị điếc khi lớn lên. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp CMV bẩm sinh không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt và sau này, 5 - 25% sẽ bị chậm phát triển tâm thần, điếc, mù, răng hỏng bất thường.

Nhiễm CMV chu sinh

Bé sơ sinh có thể bị nhiễm CMV khi đi ngang qua âm đạo để xổ thai hoặc nhiễm sau sinh khi bú mẹ hay do tiếp xúc với các dịch tiết khác của mẹ. 40 - 60% bé sơ sinh bú mẹ hơn một tháng mà mẹ có huyết thanh dương tính với CMV sẽ bị lây nhiễm.

Hầu hết các bé nhiễm CMV trong khi sinh hay sau sinh đều không có triệu chứng. Tuy nhiên, một số bé sơ sinh non tháng nhiễm CMV trong hay sau sinh có thể có triệu chứng viêm phổi kẽ kéo dài. Các triệu chứng thường gặp khác là: cân nặng lúc sinh thấp, viêm hạch, nổi mẩn, viêm gan, thiếu máu và tăng cao tế bào lymphô. CMV có thể được thải ra bằng đường ruột hay nước miếng trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.

Nhiễm CMV ở người lớn và trẻ em lớn

Mặc dù nhiễm CMV có thể thấy ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở thanh niên có hoạt động tình dục nhiều hơn. Thời gian ủ bệnh là 20 - 60 ngày, và thời gian có thể có triệu chứng bệnh là 2 - 6 tuần. Triệu chứng: sốt cao kéo dài, đôi khi lạnh run, mệt mỏi nhiều, khó chịu; đau cơ, nhức đầu, lách to; viêm họng xuất tiết và viêm hạch ở cổ; đôi khi nổi mẩn, viêm phổi kẽ, viêm màng tim, viêm màng phổi, viêm khớp và viêm não. Hầu hết bệnh nhân hồi phục không di chứng tuy vẫn bị mệt mỏi kéo dài. Rất hiếm khi nhiễm CMV đưa đến tử vong, ngoại trừ các trường hợp bệnh nhân đã bị suy giảm miễn dịch.

Việc chẩn đoán nhiễm CMV không thể chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng. Có 3 xét nghiệm giúp chẩn đoán xác định nhiễm CMV: phân lập siêu vi CMV, tìm kháng thể - kháng nguyên CMV và tìm CMV-DNA bằng PCR.

Bệnh nhiễm CMV được dự phòng qua việc sàng lọc kỹ máu, tủy xương, tạng ghép trước khi đưa vào người nhận. Hiện vẫn chưa có vaccin dự phòng CMV. Có thể sử dụng CMV-globulin miễn dịch tiêm để hạn chế bớt các trường hợp nhiễm khi ghép tạng hoặc dự phòng nhiễm cho các bé có mẹ nhiễm tiên phát CMV trong lúc mang thai. Acyclovir hay valacyclovir có thể hạn chế bớt sự lây nhiễm CMV cho người nhận tạng ghép. Ganciclovir có thể làm nhẹ bớt triệu chứng cho người suy giảm miễn dịch bị nhiễm CMV.

GS.BS. NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯỢNG



Viết phản hồi



 Ẩn email của tôi
 

Giới hạn tin theo ngày :   từ   đến